Lịch sử của hồ cá và việc nuôi cá
Thoạt nhìn thì những dụng cụ cần cho việc nuôi cá xem ra có vẻ phức tạp và đòi hỏi kiến thức chuyên môn, nhưng nên nhớ rằng kỹ thuật nuôi cá không bao giờ dựa trên sự hiểu biết về phần cứng hay phần mềm, mà chỉ đơn thuần là sự hiểu biết loài cá, những gì chúng cần và những quy trình tự nhiên khi nuôi giữ một con vật trong môi trường nước. Những kỹ thuật này đã hiện hữu lâu hơn bạn nghĩ, việc nuôi giữ cá là một việc không thể thiếu của người Sumerian cách đây từ hơn 4000 năm. Từ lâu cá đã là nguồn thức ăn và rất nhiều cộng đồng đã nuôi chúng trong ao hồ. Ở Ai Cập, cá còn nắm giữ một vị trí cao, Nile Perch đã được tôn thờ như một vị thần. Ngoài ra, trong các lăng mộ còn có hình cá bị săn bắt bằng cây lao để làm thức ăn.
Khi đế chế La Mã được sáng lập, nền văn minh của cá cũng được phát triển mạnh và người ta tin rằng kỹ thuật nuôi cá thời bấy giờ được áp dụng từ người thợ nước; người có thể giữ cho nguồn nước sạch cũng như nước muối.
Sở thích nuôi giữ cá khởi nguồn từ châu Âu va Trung Đông, nhưng khi mọi thứ phát triển, người Nhật và Trung Quốc cũng bắt đầu chơi cá. Ở đó cá được làm bằng sứ như vật trang trí mang tính mỹ thuật cao cho khung cảnh xung quanh. thời
Cá vàng được giới thiệu vào Anh từ năm 1611. Từ 1730 trở đi việc nuôi cá trong nhà trở nên rất phổ biến ở Hà Lan và sau đó là Đức.
Khá nhiều thí nghiệm khoa học đã được thực hiện cho thấy việc nuôi giữ cá trong nhà và mối quan hệ giữa thú nuôi và cây cảnh đã chính thức bắt đầu từ nửa đầu thế kỷ 19. Thú vui nuôi giữ cá trở thành một phong trào vào năm 1853 với một khu công viên cá mới khai trương ở Regents Park, London, Anh. Sau đó không lâu, khía cạnh nhiệt đới đã được phổ biến rộng rãi hơn khi chiến dịch
Cũng như bao sự say mê khác, dân số nguời thích nuôi cá tăng vọt như nấm và rất nhiều khu công viên cá đã được thiết lập; mỗi cái có một nét riêng biệt. Trong kiểu Victorian đặc thù, rất nhiều công viên cá đã được trang hoàng với rèm trướng nằm che giấu đi những cảnh tượng khó coi.
Trong các hồ cá nhiệt đới, hệ thống sưởi ấm phát triển từ dầu thô đến đèn đốt bằng gas nhưng đều có một điểm chung là đều có một ngọn lửa bên phía dưới hồ cá. Không lâu sau đó hệ thống sưởi ấm điện trong các ống thủy tinh trở nên thông dụng. Cùng lúc đó sự phát triển của ống khí được người nuôi cá chào đón như một cách tiện lợi để sưởi ấm hồ cá.
Cộng đồng và các tờ báo dành cho người nuôi cá đầy dẫy; trung tâm của những họ là ở Đức, nơi mà cá được xuất khẩu đi hết cả châu Âu và Mỹ.
Yếu tố đẩy nhanh sở thích này cũng là dựa vào sự phát triển của ngành hàng không; các chuyến bay nhanh và an toàn cho phép cá được di chuyển xa hơn. Một phát minh gần đây là nhựa và các chất liệu khác cũng khiến cho các thiết bị nuôi cá trở nên rẻ hơn và có nhiều sự chọn lựa hơn.
Ảnh hưởng xã hội của việc nuôi cá không nên bị xem thường, qua việc chia sẻ cùng một sở thích, rất nhiều công ty đã được thành lập. Ngoài các ngành công nghiệp sản xuất thức ăn, công cụ, thuốc cho cá ra, các nước nơi mà cá sống trong thiên nhiên cũng được hưởng lợi ích.
Sở thích này rất khổng lồ. Không ai có thể biết được có tất cả bao nhiêu người nuôi cá, mặc dù đã có một ước lượng ở Bắc Mỹ là người nuôi cá chỉ xếp thứ hai sau số người thu thập tem. Trong khi nhiều luật lệ về việc nuôi giữ thú cảnh trong khu căn hộ và công cộng trở nên khắc khe, nuôi cá dường như là một cách dễ nhất; không có tiếng ồn, không bừa bộn, không có lông và chỉ cần dựa vào một ít sự chú ý của con người.









